This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

10 bí ẩn vũ trụ khiến các nhà khoa học... bó tay

Hoàng Long | 
10 bí ẩn vũ trụ khiến các nhà khoa học... bó tay

Sự đóng góp to lớn của khoa học vũ trụ cho nhân loại là điều khó có thể so sánh. Tuy nhiên vẫn còn những bí ẩn nằm ngoài khả năng nghiên cứu và phán đoán của giới chuyên môn.

1. Hệ mặt trời kỳ quái
Khi các nhà thiên văn học và nhà quan sát vũ trụ phát hiện những hành tinh xa lạ quay quanh các vì sao, họ biết được rằng hệ mặt trời của chúng ta có nhiều đặc tính kỳ lạ.
Ví dụ, dù rất khác biệt nhưng 4 hành tinh ở trong cùng của hệ mặt trời đều có lớp vỏ ngoài được tạo thành từ đá và lõi làm từ kim loại.
Ngược lại 4 hành tinh ngoài cùng của hệ mặt trời lại hoàn toàn khác nhau. Các nhà khoa học đã nghiên cứu quá trình hình thành hành tinh với hy vọng giải thích sự hình thành của hệ mặt trời, nhưng họ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
2. Tại sao vầng hào quang của mặt trời nóng?
Bầu khí quyển phía ngoài cùng cực kỳ nóng của mặt trời được gọi là hào quang của mặt trời. Nhiệt độ ở đó lên tới 500.000 - 6 triệu độ C.
Các nhà thiên văn học cho rằng nguyên nhân có thể do nguồn năng lượng ở dưới lớp bề mặt có thể quan sát thấy, và do các quá trình xảy ra trong từ trường của mặt trời.
Nhưng cơ chế sinh nhiệt cụ thể của vầng hào quang quanh mặt trời vẫn chưa được giải thích cặn kẽ
3. Các tia vũ trụ giàu năng lượng xuất phát từ đâu?
Nguồn gốc của các tia vũ trụ lâu nay vẫn khiến các nhà thiên văn học đau đầu sau cả thế kỷ tìm hiểm nguồn gốc của các hạt năng lượng.
Các tia vũ trụ được nạp thêm những hạt ở cấp độ thấp hơn nguyên tử - chủ yếu là proton, electron và hạt nhân mang năng lượng của các nguyên tố cơ bản, di chuyển vào hệ mặt trời của chúng ta từ bên ngoài.
Khi đó, đường đi của chúng bị bẻ cong bởi các từ trường của trái đất và mặt trời.
Những tia vũ trụ mạnh nhất có mức năng lượng lớn hơn 100 triệu lần so với các hạt tạo ra từ các vụ nổ do sự can thiệp của con người. Tuy nhiên, nguồn gốc của các hạt kỳ lạ này vẫn chưa được làm sáng tỏ.
4. Tốc độ ánh sáng
Trong khi những giả thuyết cho rằng tốc độ ánh sáng là tốc độ nhanh nhất mà con người có thể đạt đến chưa được chứng minh thì ngày càng có nhiều bằng chứng chứng minh rằng giả thuyết này là chưa chính xác.
Một vài người cho rằng năng lượng bóng đêm còn di chuyển với tốc độ nhanh hơn tốc độ ánh sáng.
Họ cũng chứng minh rằng nếu học thuyết Big Bang là đúng, vũ trụ đã được mở rộng nhanh hơn tốc độ ánh sáng nhiều lần trong những ngày đầu khai sinh vũ trụ.
5. Ảo giác mặt trăng
Ảo giác Mặt trăng được ghi nhận từ thời cổ đại.Hiện tượng này xảy ra khi mặt trăng xuất hiện rất thấp và lớn trên bầu trời.
Trước kia, nhiều người cho rằng đây là do ảnh hưởng của không khí, hoặc ảnh hưởng vật lý. Tuy nhiên, những lý giải này đã nhanh chóng bị bác bỏ. Đến giờ các nhà khoa học vẫn chưa thể lý giải được hiện tượng trên.
6. Tiếng "Ầm" từ vũ trụ
Các nhà khoa học đang cố gắng nghiên cứu những ngôi sao mới hình thành, nhưng năm 2006, họ gặp phải một vấn đề rắc rối: đó là những tiếng động bí ẩn xuất hiện trong những nghiên cứu của họ.
Một cuộc tranh cãi nảy lửa về nguyên nhân của tiếng động này đã nổ ra.
Vì âm thanh không thể truyền trong không trung, chỉ có sóng vô tuyến mới có thể làm được điều đó, nên các nhà khoa học đã rất lúng túng về xuất xứ của những sóng vô tuyến này.
Những tiếng động này lớn gấp 6 lần so với âm thanh thường gặp, và các nhà khoa học cũng chứng minh được rằng âm thành này không thuộc bất cứ loại sóng vô tuyến nào mà chúng ta từng biết.
7. Sự sống bắt đầu từ đâu?
Khởi nguồn của sự sống là một trong những chủ đề tranh luận lâu nhất từ trước đến nay. Một vài nhà khoa học giải thích sự hình thành vũ trụ bằng thuyết Big Bang.
Nhiều nhà khoa học đang tham gia vào sự án Large Hadron Collider để nghiên cứu về hạt Higgs Boston, điều có thể giúp các nhà vật lý tiến tới giải thích được về học thuyết vụ nổ Big Bang và những thuyết hình thành vũ trụ khác.
8. Tại sao các loài động vật siêu lớn lại tuyệt chủng?
Các loài động vật siêu lớn như voi ma mút đã tuyệt chủng được khoảng hoăn 10.000 năm và đến giờ các nhà khoa học vẫn chưa giải thích được vì sao.
Có 2 cách giải thích chính sự việc này: do nạn săn bắn do con người tiến hành và do thời tiết thay đổi.
Những người ủng hộ cho nguyên nhân thứ 2 có rất ít bằng chứng chứng minh cho luận điệu của mình. Cũng có rất ít bằng chứng khảo cổ củng cố cho nguyên nhân thứ 1.
9. Sự chuyển dời của các lục địa
Lý thuyết về sự chuyển dời lục địa được đưa ra lần đầu tiên năm 1500. Theo đó, các lục địa chuyển dời qua đại dương. Sau đó, thuyết Địa kiến tạo ra đời.
Thuyết Địa kiến tạo cho rằng trên nền đại dương có rất nhiểu tầng địa chất, những tầng địa chất này là nguyên nhân khiến các lục địa chuyển động rời dần nhau và tạo thành đại dương trong nhiều triệu năm.
Nhưng nguyên nhân gì khiến các lớp địa tầng dịch chuyển trong thuyết Địa kiến tạo vẫn chưa được giải thích một cách đầy đủ.
10. Cái gì đã khiến vũ trụ được tái tạo ion hóa
Một lý thuyết được nhiều người chấp nhận về nguồn gốc và sự tiến hóa của vũ trụ là mô hình Big Bang. Mô hình đó nói rằng vũ trụ lúc đầu cực kỳ nóng và dày đặc vào thời kỳ cách đây khoảng 13,6 tỷ năm.
Một giai đoạn hoạt động tích cực trong lịch sử vũ trụ, cách đây khoảng 13 tỷ năm, được gọi là thời kỳ tái ion hóa. Trong thời kỳ này, đám sương mù khí hydro trong vũ trụ trở nên trong sáng khi có tia cực tím.
Khoảng 400.000 năm sau vụ nổ Big Bang, các proton và electron đã nguội tới mức chúng được hút lại gần nhau trong các nguyên tử hydro trung tính.
Đột nhiên, các photon trước đó nằm rải rác quanh các electron lại có thể di chuyển tự do trong vũ trụ.
Sự mở rộng của vũ trụ đã phát tán các proton và electron đủ để các nguồn năng lượng mới giữ chúng không xích lại gần nhau nữa. Loại “súp” này loãng tới mức hầu hết các photon có thể di chuyển mà không bị cản trở.
Kết quả là, hầu hết vật chất của vũ trụ trở thành plasma được ion hóa phát ra ánh sáng như ngày nay.

0 nhận xét

Huế yêu kiều trong mùa xoan nở

TTO - Khắp cố đô Huế giờ đây đâu đâu cũng thấy hoa xoan nở. Từ góc công viên, ven đường, bờ sông, đồng ruộng hay bên hiên của những ngôi nhà giữa những khu vườn nhiều tầng bậc trong Thành nội. 
Xoan rộ nở một màu trắng tím phơn phớt. Hương xoan không nồng, thoang thoảng dễ chịu.
Người Huế gọi xoan là sầu đông hay thầu đâu. Cũng lạ, thường năm xoan nở trong mưa xuân lất phất, trong mưa ngâu hay trong đợt rét nàng Bân... Năm nay xoan lại nở trong nắng nóng. Hương xoan thoang thoảng, màu hoa phơn phớt khiến đất cố đô trở nên quyến rũ, rất đỗi yêu kiều trong mùa hoa xoan...
Tuổi Trẻ Online giới thiệu chùm ảnh hoa xoan khiến Huế thơ mộng trở nên mộng mơ.
NGUYỄN NGỌC THẠCH

0 nhận xét

Bi kịch từ một phút yếu lòng

TTO - Người phụ nữ ngã vào vòng tay của một người đàn ông khác không phải chồng mình trong một phút yếu lòng. Uất hận, ghen tuông đã khiến người chồng ấy gây ra một vụ án mạng.
minhhoaCho đến khi đứng trước vành móng ngựa nghe tuyên bản án tù dài đến hết cuộc đời, bị cáo vẫn không một lời trách móc vợ...
Yếu mềm
“Tôi là người dân tộc ở vùng cao sâu xa của Bắc Kạn. Tôi lớn lên và trưởng thành trong gia đình có 10 anh chị em nên không được học hành, giao tiếp còn nhiều bỡ ngỡ. Được một số người quen dìu dắt ra Hà Nội sinh sống, tôi có quen biết anh T.V.H. cùng đi làm thuê kiếm tiền, thế là chúng tôi quyết định xây dựng hạnh phúc với nhau.
Chồng tôi rất yêu tôi, gia đình tôi sống rất hạnh phúc với nhau. Rồi chúng tôi sinh được một cháu trai. Sau một thời gian con tôi cứng cáp, tôi đã gửi con ở nhà cho bố mẹ chồng chăm sóc và lên Hà Nội làm để đỡ đần thêm tiền cùng chồng.
Trong thời gian tôi làm ở công ty có quen biết anh T.. Không lâu sau tôi phát hiện anh T. luôn quan tâm đến tôi, rủ tôi đi chơi và uống nước nhưng tôi luôn lẩn tránh vì cả hai bên đều đã có gia đình riêng.
Có lần chồng tôi về quê gặt lúa vài ngày, anh T. biết vậy nên đã gọi điện mời tôi đi uống nước. Vì chỉ có một mình nên tôi đã nhận lời mời của anh T.. Lúc ngồi uống nước, anh T. đã thổ lộ tình cảm với tôi và nói rất yêu tôi.
Trong phút yếu lòng tôi có cùng anh T. đi nhà nghỉ qua đêm và có quan hệ nam nữ. Những ngày sau đó tôi rất sợ và hoang mang, sợ chồng tôi sẽ phát hiện mối quan hệ đó nên tôi bảo anh T. chấm dứt mối quan hệ nhưng anh T. vẫn tiếp tục lôi kéo và thường xuyên nhắn tin cho tôi.
Trong một hôm anh T. nhắn tin cho tôi thì bị chồng tôi phát hiện. Vì yêu vợ nên chồng tôi rất tức giận và không làm chủ được bản thân, để xảy ra án mạng, gây ra cái chết với anh T..
Tôi là vợ của anh H. hết sức áy náy về việc quan hệ lăng nhăng của anh T. và tôi không ngờ lại thành ra thế này...”.
Trên đây là lá thư kín hai trang giấy của chị C. (22 tuổi) gửi đến TAND TP Hà Nội để xin giảm án cho chồng. Phiên tòa xét xử chồng chị - bị cáo H. (27 tuổi, quê Nam Định) phạm tội giết người được TAND TP Hà Nội mở sáng 23-3.
Nội dung lá đơn ấy cũng giống như nội dung được thể hiện tại bản cáo trạng truy tố bị cáo. Khi H. bị bắt, bạn bè và người thân quen đều ngạc nhiên bởi tại sao một người hiền lành như H. lại có thể 
giết người.
“Sinh ra ai cũng mong mình là người tốt, đâu ai muốn mình trở thành kẻ đâm chém người khác. Em đã tha thứ cho vợ rồi nhưng đêm nằm suy nghĩ nhiều, tức giận quá nên sáng mai mới cầm dao đi tìm anh T. như vậy” - bị cáo kể với người dự khán khi phiên tòa chưa bắt đầu.
Suốt cả phiên tòa, bị cáo không một lần ngẩng mặt lên. Đôi vai càng lúc càng cúi xuống thấp, chúi cả về phía trước. “Bị cáo ức chế lắm, chỉ tính đâm một nhát dao cho đỡ tức thôi” - bị cáo H. nói.
Có trách móc cũng không thể quay trở lại
“Cô có trách giận con dâu không?” - vài người dự khán hỏi mẹ bị cáo. Bà kể sau khi sự việc xảy ra, con dâu bà đã tính trốn đi luôn, không về nhà vì sợ và xấu hổ với bố mẹ chồng. Nhưng rồi chị C. vẫn quyết định trở về.
“Con sai rồi, bố mẹ tha thứ cho con, cho con cơ hội được ở nhà với bố mẹ để làm ăn nuôi con và đợi chồng con về” - chị C. nói thế với bố mẹ chồng.
Bà chấp nhận và lý giải: “Nó là người dân tộc Dao nên khù khờ, cả đời không đi đến đâu, cũng không gặp gỡ giao tiếp với ai. Khi sự việc xảy ra, cũng có nhiều người hỏi tôi sao không đuổi quách con dâu ra khỏi nhà đi, vì nó mà mới xảy ra cơ sự.
Tôi nghĩ chuyện gì xảy ra thì cũng xảy ra rồi. Có trách móc con cũng không thể quay trở lại như trước đây được nữa. Thôi thì để nó làm ăn còn nuôi con...”.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình bị hại đề nghị tăng nặng hình phạt với bị cáo vì “mâu thuẫn có thể hóa giải được nhưng bị cáo vẫn rất hung hăng”.
Luật sư của bị cáo lại cho rằng bị hại có lỗi vì đã rủ rê vợ bị cáo. Luật sư đề nghị tòa xử bị cáo ở khung hình phạt thấp hơn vì bị cáo phạm tội khi ở trong trạng thái bị kích động. Sau khi tòa tuyên bị cáo tù chung thân, cả gia đình bị cáo khóc òa.
Chị bị cáo nức nở: “Nó có bao nhiêu là tình tiết giảm nhẹ, đã khắc phục hậu quả, ra đầu thú, sự việc xảy ra không phải vô cớ mà có lỗi của bị hại... Sao em tôi lại còn bị tù chung thân?”.
Chị vội vàng lấy điện thoại ra gọi cho vị luật sư bào chữa chỉ định xem ông đã nạp giấy tờ chứng minh gia đình bị cáo có công với cách mạng chưa, nếu nạp rồi tại sao bị cáo vẫn bị tuyên mức án nặng đến thế?
Giọng vị luật sư vang qua điện thoại: “Giết chết một mạng người, án chung thân là không nặng đâu”…
Cả nhà bị cáo được gặp nhau trong phút chốc. Vợ bị cáo vòng tay ôm lấy chồng, những tiếng nấc nhiều hơn lời hỏi han. “Em đã tha thứ cho vợ rồi. Trước đây đâu có chửi bới, đánh mắng gì vợ đâu...” - bị cáo bảo vậy khi tôi hỏi có trách giận gì vợ không.
Sau khi gặp chồng, chị C. bảo sẽ lo học nghề mây tre đan để kiếm tiền nuôi con và đợi chồng về. “Sau biến cố lớn của cuộc đời, tôi biết trân trọng hơn những gì mình đã có” - chị bảo vậy.
URL : http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20160410/bi-kich-tu-mot-phut-yeu-long/1081936.html
TÂM LỤA (tamlua@tuoitre.com.vn)








0 nhận xét

“Đêm trước” đổi mới: Chuyển đổi vô hình

Thủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh kỷ niệm với chuyên gia Liên Xô sang VN giảng bài về NEP (chính sách kinh tế mới) năm 1979 - Ảnh tư liệu của GS Lê Văn Viện Thực tiễn có thể xé rào hay bùng nổ hơn nữa, cay đắng hơn nữa nếu không có sự chuyển đổi tư duy. Những người gánh vác trọng trách rồi cũng bước ra khỏi sách vở giáo điều để đi đến những quyết định kịp thời. - Kỳ 1: "Đêm trước" đổi mới: Ký ức thời “sổ gạo” - Kỳ 2: “Vòng kim cô” - Kỳ 3: Khi chợ trời bị đánh sập - Kỳ 4: Công phá “lũy tre” - Kỳ 5: Chiếc áo cơ chế mới - Kỳ 6: Tưởng như xa xôi lắm - Kỳ 7: Từ chạy gạo đến phá cơ chế giá - Kỳ 8: Bù giá vào lương - Kỳ 9: Những thông điệp gửi đến Ba Đình Đột phá tư duy Lục tìm những tập ảnh kỷ niệm, GS Lê Văn Viện (nguyên giảng viên Trường đại học Kinh tài - nay là Đại học Kinh tế quốc dân) đưa ra một tấm hình đen trắng đã ố màu. Ông nói đây là tấm ảnh được chụp năm 1979 khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm lớp học về NEP (chính sách kinh tế mới) của Lênin do các giáo sư, viện sĩ, tiến sĩ kinh tế hàng đầu của Liên Xô giảng dạy cho các cán bộ trung, cao cấp VN. Các khóa học này như là tìm chỗ dựa về lý luận để đúc kết những cuộc phá rào đang diễn ra trong thực tiễn. Bởi chỉ với thực tiễn thì khó mà thay đổi nhận thức những vị làm chính sách quan liêu, giáo điều. Giáo sư Trần Nhâm ghi lại trong cuốn Trường Chinh với hành trình đổi mới tư duy (NXB Chính Trị Quốc Gia - 2005): “Sau khi nhận thấy yêu cầu cấp bách của thực tiễn cũng như hình hài con đường đổi mới của VN, đồng chí Trường Chinh cho rằng tình thế lúc này không thể kéo dài được nữa nhưng để thay thế cái cũ phải nắm vững lý luận, hiểu rõ thực tế và nhìn thẳng vào sự thật. Do vậy ông quyết định làm gấp hai việc: Một là tập hợp một nhóm tư vấn gồm những người có tư duy đổi mới để nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm căn cứ và tìm ra phương pháp luận cho việc xác định con đường, bước đi sắp tới. Hai là tổ chức những chuyến đi thực tế các địa phương, tìm rõ cái hay cái dở, thành công và thất bại để có những đánh giá chính xác...”. Cuối tháng 12-1982, nhóm nghiên cứu ra đời gồm: Lê Xuân Tùng, Đào Xuân Sâm, Trần Đức Nguyên, Lê Văn Viện, Nguyễn Thiệu, Võ Đại Lược, Dương Phú Hiệp, Hà Nghiệp, Trần Nhâm... Ông Đào Xuân Sâm nói: nhóm có khoảng chục người “khai sinh” từ lệnh miệng, hoàn toàn không có quyết định thành lập. Vị trí của đồng chí Trường Chinh lúc ấy không điều hành, xử lý công việc cụ thể, có độ lùi để nhìn toàn cục, có thời gian để nắm bắt, lắng nghe tình hình. Một số vấn đề mà nhóm nghiên cứu tập trung làm rõ là nhận thức lại những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; nội dung cơ bản của chính sách kinh tế mới của Lênin và việc vận dụng vào VN; nhận thức lại CNXH và con đường đi lên CNXH ở VN; phân kỳ thời kỳ quá độ; phân tích cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội… Nhóm đã chuẩn bị các phát biểu mang tư tưởng mới cho các đồng chí lãnh đạo tại nhiều cuộc họp Bộ Chính trị và hội nghị trung ương. Ở TP.HCM cũng có một nhóm chuyên gia kinh tế như vậy thường được nhắc đến với cái tên nhóm “Thứ Sáu” (họ thường tụ tập vào thứ sáu hằng tuần). Thành phần chủ yếu là các chuyên gia có hạng của miền Nam trước 1975. Người từ trại cải tạo về, người không thuộc diện cải tạo thì sống trong cảnh nửa thất nghiệp bên lề xã hội. Thế mà họ (Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Phan Chánh Dưỡng…) đã được Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Trần Chí lúc ấy trọng dụng như những “quân sư kinh tế”. Nhà nghiên cứu kinh tế Đặng Phong cho rằng đây là hiện tượng khá đặc biệt, không chỉ đối với VN mà còn là điều hiếm thấy ở những nước XHCN khác. Nhóm “Thứ Sáu” nghiên cứu cả chuyện lớn, chuyện nhỏ miễn là góp sức gỡ thế bí, đặc biệt tìm những mũi đột phá cơ chế từ ách tắc thực tiễn. Dấu ấn của họ để lại trong những chuyện xây dựng vùng lúa năng suất cao ở Tiền Giang, nghiên cứu thành lập thí điểm ngân hàng cổ phần, đề xuất lập khu chế xuất… cho đến đột phá về cải cách giá - lương - tiền. Đây là mũi đột phá tư duy đi ngược lại phần lớn ý kiến đương thời. Nền kinh tế lúc ấy đang đứng trước nghịch lý: giá hàng tăng, sản xuất đình trệ, tiền khan hiếm… TP.HCM có lẽ là nơi gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề nhất của cơ cấu khủng hoảng này. Trong tình hình rối bời, nhóm “Thứ Sáu” được giao giải bài toán “chống lạm phát”. Họ lao vào tìm số liệu, phân tích thống kê, so sánh tỉ giá tiền đồng với đôla… để rồi hoàn tất một công trình mang tên “Các biện pháp chủ động về tiền tệ, giá cả nhằm phát triển kinh tế”. Họ chẩn bệnh: tình trạng tăng giá mà xã hội đang chứng kiến chỉ là tăng ảo. Nó không mang lại sự kích thích sản xuất hay giải quyết việc làm như tác động thường thấy của lạm phát trong một nền kinh tế đang tăng trưởng. Mỗi người nhìn giá cả theo góc độ của mình: người tiêu dùng thấy giá hàng tăng nhưng nhà sản xuất lại thấy giá hàng không bù đắp nổi chi phí. Trong khi đó người nước ngoài tiêu xài đôla tại VN thấy giá cả hàng hóa ngày càng rẻ vì so với vàng và đôla thì mọi loại hàng đều giảm. Nhóm “quân sư” này cho rằng chính sách tiền tệ của các nước kế hoạch hóa tập trung, trong đó có VN, là chống lạm phát bằng cách hạn chế đưa tiền ra lưu thông chỉ tạo ra suy thoái kinh tế và kiệt quệ các lực lượng sản xuất. Thời ấy mà nói thế là “to gan” lắm nếu không có những “cái ô” trên đầu. Họ chỉ ra bản chất của vấn đề là nền kinh tế tụt dưới mức nhu cầu xã hội nên tình trạng “tăng giá suy thoái” xảy ra triền miên và không thể khắc phục được nếu tiếp tục hạn chế khối lượng tiền tệ. Điều đó dễ dẫn đến nguy cơ phi tiền tệ hóa nền kinh tế. Người dân sẽ dùng vàng và đôla làm phương tiện thanh toán. Nhóm “Thứ Sáu” không những khẳng định những biện pháp cải cách tiền lương thời đó không phù hợp mà còn cho rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả. Họ kiến nghị chấm dứt tức khắc tình trạng ngăn sông cấm chợ mà trước tiên là bãi bỏ các trạm kiểm soát trên các trục lộ giao thông. Áp dụng chính sách tiền tệ tích cực nhằm hỗ trợ sản xuất phát triển. Cải tổ hệ thống ngân hàng để tạo sự tín nhiệm cho người dân gửi tiền. Và điều quan trọng là công bố cho dân biết Chính phủ không bao giờ đổi tiền nữa. Kết quả chống lạm phát thành công và sau này nhiều người trong nhóm được mời vào tổ tư vấn cải cách kinh tế của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Năm 1976-1986, giá nông sản tăng từ 0% lên gần 2.000% + TTXH - thị trường xã hội: được hiểu là thị trường chung của hàng hóa nhà nước, tập thể, tư nhân (hợp pháp và bất hợp pháp). + Tthị trường tổ chức: được hiểu là thị trường quốc doanh. + TTTD - thị trường tự do: được hiểu theo giá chợ. + GIA NS: Giá nông sản. (Nguồn : Niên giám thống kê 1986) Thật ra sau giải phóng, theo ông Kiệt, đã từng có ý kiến ở cấp cao muốn duy trì một nền kinh tế nhiều thành phần, sử dụng thị trường. Nhưng sau đó không lâu, xu hướng “tả khuynh” duy ý chí đã thắng thế dẫn tới cải tạo công thương nghiệp ồ ạt, cải tạo nông nghiệp vội vã, đưa dân đi kinh tế mới cưỡng bức. Đó là một trong những nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở thời điểm trước đổi mới. Khi nền kinh tế và đời sống nhân dân đi đến cùng cực thì những quan điểm giáo điều, “tả khuynh” mới bộc lộ rõ tính bất lực của nó. Đến lúc đó, những tư duy khách quan, tỉnh táo hơn đã cứu vớt từng mảng nền kinh tế. Những cuộc phá rào lúc âm ỉ, lúc bùng phát ở cơ sở tiến đến phá rào trong cả đường lối, chính sách ở trung ương. Phao bảo hiểm Hoàn cảnh VN (đặc biệt là miền Nam) khác nhiều nước XHCN khác ở chỗ kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường chưa bao giờ bị xóa sổ triệt để. Những ai đã sống ở “đêm trước” đổi mới chắc hẳn chưa quên cảnh hàng quán lô nhô từ khắp vỉa hè thành phố cho đến ngõ xóm làng quê. Nó như những chiếc phao bảo hiểm khi khu vực quốc doanh không cung ứng đủ hàng cho sản xuất và đời sống. Chuyên gia sử kinh tế Đặng Phong ví nó như cục bướu con lạc đà lấy chất dinh dưỡng dự trữ sẵn cho chuyến hành trình qua sa mạc khô cằn. Sự khác nhau này góp phần giải thích tại sao khi mô hình kinh tế cổ điển khủng hoảng thì các nước Đông Âu rơi ngay vào thảm cảnh sụp đổ, trong khi mức độ khủng hoảng ở VN nhẹ nhàng hơn. Hơn nữa, tại các thành phố và gần như toàn bộ nông thôn miền Nam, kinh tế thị trường hay kinh tế tư nhân nói riêng không những kế thừa thời trước 1975 mà còn được hà hơi tiếp sức bởi những quan hệ với Việt kiều và nước ngoài. Hằng năm, Việt kiều khắp nơi gửi tiền, hàng về cho thân nhân trong nước. Tiền tạo thêm vốn kinh doanh hoặc làm tăng sức mua của xã hội. Hàng hóa từ ngoài vào như một nguồn tiếp sức cho thị trường tự do. Một nguồn lực khác tiếp thêm sức cho thị trường tự do là lực lượng lao động xuất khẩu ở các nước XHCN và thủy thủ tàu viễn dương. Theo ông Đặng Phong, lực lượng này chỉ bằng 1/10 Việt kiều (200.000 so với 2 triệu) nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường nội địa. Họ khai thác nhiều mặt hàng trong nước mang đi như quần áo, đồ mỹ nghệ... và gửi về tất cả những gì trong nước thiếu, từ xe đạp, xe máy, tủ lạnh, tivi... cho đến kim chỉ, bút bi, cúc áo. Nhờ vậy, dù khu vực kinh tế chính thống rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nhưng dân tình không đến nỗi khốn khó như ở Cuba, Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc trước thời Đặng Tiểu Bình. Điều này góp phần giải thích vì sao chuyển đổi ở VN thuận lợi, êm thắm hơn. Kinh tế thị trường ở VN là cái đã sẵn có, khi được hợp pháp hóa nó bung ra phát triển ngay lập tức. XUÂN TRUNG - QUANG THIỆN Việt Báo (Theo_Tuổi Trẻ )
------------
Xem thêm: “Đêm trước” đổi mới: Chuyển đổi vô hình - Bai bao hay, http://vietbao.vn/Phong-su/Dem-truoc-doi-moi-Chuyen-doi-vo-hinh/40019832/263/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn

0 nhận xét

“Đêm trước”đổi mới: Những thông điệp gửi đến Ba Đình

Các vị lãnh đạo cao cấp Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng... dự Hội nghị Phước Long tổ chức tại Công ty Dệt Phước Long, TP.HCM. Ông Bùi Văn Long (nguyên tổng giám đốc Liên hiệp Dệt) ngồi bìa phải Trong khi hàng rào cơ chế thủng ở nhiều nơi thì những tranh luận trên bàn tư tưởng vẫn chưa ngã ngũ. Nhưng để chuyển những thông điệp trung thực từ cuộc sống đến các nhà hoạch định chính sách không chỉ cần dũng cảm mà cả nghệ thuật. Kỳ 1: "Đêm trước" đổi mới: Ký ức thời “sổ gạo” Kỳ 2: “Vòng kim cô” Kỳ 3: Khi chợ trời bị đánh sập Kỳ 4: Công phá “lũy tre” kỲ 5: Chiếc áo cơ chế mới Kỳ 6: Tưởng như xa xôi lắm Kỳ 7: Từ chạy gạo đến phá cơ chế giá Kỳ 8: Bù giá vào lương “Thời trang” tư duy Trước thềm Đại hội Đảng lần VI (1986), những câu hỏi, những quyết định mang tính xoay chuyển vận mệnh dân tộc vẫn chưa định hình rõ. Lãnh đạo TP.HCM nghĩ ra sáng kiến tổ chức một cuộc gặp cho các giám đốc doanh nghiệp trao đổi, chia sẻ với các vị lãnh đạo cấp cao về cơ chế chính sách hiện thời. Ông Lê Xuân Tùng, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nhớ lại cuộc gặp tổ chức ở Đà Lạt. Rất đông các giám đốc của TP.HCM có tư tưởng mới, có đấu tranh và có thành công đã có mặt. Họ được “bật đèn xanh” thoải mái giãi bày tâm huyết. Hàng trăm trái tim sục sôi muốn mở cửa, muốn thoát đói nghèo, lạc hậu, muốn bung khỏi cơ chế kìm nén… được dịp “thổn thức”. Hàng trăm câu chuyện bi hài về lưu thông hàng hóa, giá cả, đồng lương... được giãi bày. Có giám đốc bật khóc giữa hội nghị khi đang phát biểu... “Mùi xét lại” đã trở thành bữa tiệc tư tưởng hân hoan và mới lạ. Sau này có nhiều giai thoại về Hội nghị Đà Lạt nhưng nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt khẳng định với chúng tôi rằng đây chỉ là một cuộc “báo cáo” đột xuất của các giám đốc quá bức xúc với các vị lãnh đạo cao cấp nhân chuyến nghỉ mát của các đồng chí lãnh đạo tại Đà Lạt. Nhưng những cuộc tranh thủ như thế cũng như đẩy sự xé rào ra công khai, đòi hỏi được thừa nhận. Công nhân ngành dệt sắm vai người mẫu trình diễn thời trang tại Hội nghị Phước Long - Ảnh tư liệu của ông Bùi Văn Long Thật ra bức thông điệp được đánh giá sâu sắc và hiệu quả nhất chính là từ Hội nghị Phước Long - TP.HCM hồi tháng 4-1984. Ông Bùi Văn Long, nguyên tổng giám đốc Liên hiệp Dệt VN, nói: năm 1984 khi làn sóng đổi mới lên cao, lãnh đạo TP.HCM là đồng chí Võ Văn Kiệt rất muốn làm sao để chuyển đến các vị lãnh đạo cao nhất tình hình thực tiễn. Ông bàn với Liên hiệp Dệt mở một hội nghị cho các DN đăng đàn và mời các vị lãnh đạo trung ương về nghe. Lúc đó toàn ngành dệt đang rùng rùng chuyển động. Kế hoạch hội nghị gồm: phần “lễ” dành để các giám đốc nói về khó khăn vướng mắc trong cơ chế bao cấp, những động cơ, những kết quả xé rào..., tóm lại bộc bạch tất cả những gì trăn trở, thậm chí những oan trái khi bị nghi ngờ lòng trung thành với Đảng, với chế độ. Tiếp đến là những kiến nghị sửa đổi cơ chế chính sách... Phần “hội” thì ngoài các gian hàng trưng bày sản phẩm mới (do xé rào mà có!) là mục trình diễn thời trang. Đây có lẽ là chương trình thời trang đầu tiên của VN. Chính anh chị em công nhân ngành dệt may trình diễn những tác phẩm của mình làm ra dưới ánh sáng cơ chế mới. Đó là quần âu, áo sơmi, blouson. Hội nghị tổ chức tại khuôn viên Công ty Dệt Phước Long, thời gian dự kiến hai ngày. Khách mời gồm lãnh đạo, đại diện các ban ngành của thành phố, hơn 20 giám đốc các công ty trong và ngoài ngành dệt, lãnh đạo các bộ ngành trung ương, chủ tịch, bí thư các tỉnh thành khác và các vị lãnh đạo cao cấp. Các bậc “cây đa, cây đề” Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh... đã về dự cùng hơn 200 đại biểu là các thành phần nêu trên đã có mặt. Tổng giám đốc Bùi Văn Long là người đầu tiên đứng lên báo cáo về tình hình dệt may cả nước và chủ động nói bốn vấn đề xé rào của mình. Thứ nhất là kế hoạch sản xuất phải căn cứ vào thực lực doanh nghiệp và tình hình thị trường. Phải do doanh nghiệp tự đặt ra chứ không nên là chỉ tiêu cấp trên giao xuống một cách quan liêu. Thứ hai, doanh nghiệp tự lo nguyên liệu đầu vào thì doanh nghiệp tự bán sản phẩm theo giá thị trường chứ không thể bán cho thương nghiệp theo giá qui định thấp hơn giá thành được. Một đại biểu chất vấn tại sao doanh nghiệp của ông Long có hai sổ hạch toán tài chính. Ông Long nói: tôi có hai sổ vì một sổ hợp pháp (thu chi các sản phẩm đầu vào đầu ra theo giá nhà nước) nhưng không hợp lý và một sổ hợp lý thì không hợp pháp (thu chi theo giá thật trên thị trường). Sổ hợp pháp để báo cáo cấp trên. Sổ hợp lý để điều hành doanh nghiệp. Ví dụ tôi mua một cây tre về đóng cọc cho công ty. Người ta bán 1,5 đồng/chiếc trở lên nhưng Ủy ban Vật giá chỉ cho phép chi 1 đồng. Tôi đành nói anh em mua một cây tre, chặt ra làm đôi tính hai gốc để vào sổ cho hợp pháp. Phần tiếp theo là lương cán bộ công nhân. Nhà nước phải trả lương để công nhân đủ khả năng tái tạo sức lao động. Không thể cào bằng. Lương phải tính theo sản phẩm. Không cần tem phiếu nữa… Buổi sáng đi qua rất nhanh. Buổi chiều hàng loạt doanh nghiệp khác phát biểu. Hết một ngày, hai rồi ba ngày, các đồng chí lãnh đạo vẫn muốn nghe thêm hỏi thêm. Nhiều đồng chí xuống hàng ghế của anh em cán bộ, công nhân hỏi han từ lương bổng, ăn uống, con cái học hành, đi lại, chế độ sức khỏe... Nắng đầu mùa gay gắt, hội nghị tổ chức giữa sân. Ngay cả hàng chủ tọa cũng rất oi bức nhưng ai cũng chăm chú, hăng say cả nghe lẫn hỏi và nói. Hội nghị Phước Long kéo dài quá một ngày so với kế hoạch. Những cái bắt tay, vỗ vai và ánh mắt đầy khích lệ của các vị lãnh đạo trung ương khiến những người tổ chức hội nghị hiểu rằng kinh tế đất nước không còn bao lâu nữa sẽ sang trang. Cảm khái, ông Long viết một bài thơ mà hơn 20 năm sau ông còn nhớ: “Thành Công (Dệt Thành Công) đổi mới đi đầu Phá rào bao cấp trên đâu có ngờ. Thành Công dệt được bài thơ Đón cờ khen thưởng đó là chứng minh Việc làm có lý có tình Có trên có dưới có mình có ta” Lá bùa hộ mệnh Thật ra, theo phân tích của nhiều chuyên gia am hiểu tình hình hậu trường, sự chuyển biến trong tư duy kinh tế ở cấp cao bắt đầu thể hiện rõ từ Hội nghị trung ương 6 khóa IV (9-1979). Chương trình nghị sự của trung ương dự định bàn về sản xuất hàng tiêu dùng. Nhưng ngay trong buổi họp đầu tiên các địa phương đều nêu lên những ách tắc về cơ chế. Và trong khi trung ương đang họp thì thông tin từ các địa phương dội về rằng “hàng rào cơ chế ở nhiều địa phương đã bị vi phạm”. Giá lúa nghĩa vụ do Nhà nước ấn định 0,52 đồng, nhưng TP.HCM rồi ĐBSCL đã tự động mua bán với giá gấp gần năm lần (2,5 đồng). Một số nơi công nhân “tự cứu trước khi trời cứu” bằng cách sản xuất để tự nuôi lấy mình, không nộp sản phẩm cho Nhà nước. Tệ hơn có xí nghiệp đóng cửa luôn vì không thể làm ăn gì được nữa. Tình hình này buộc hội nghị trung ương “xé rào” chương trình nghị sự, chuyển sang bàn cơ chế kinh tế. Kết quả là trung ương cho ra được hai nghị quyết đột phá (một về sản xuất hàng tiêu dùng, một về sửa đổi cơ chế kinh tế) cho phép “bung ra” và “cởi trói” sản xuất. Các ủy viên trung ương mang nghị quyết trở về địa phương như là “lá bùa hộ mệnh” để xử lý những vấn đề bức xúc tồn đọng lâu nay. Hội nghị Trung ương 6 như là cú hích dẫn tới hàng loạt sự đột phá trong đời sống kinh tế. Rồi đến lượt nó, những đột phá trong đời sống lại tạo ra cả nhu cầu lẫn khả năng đột phá tiếp về cơ chế. Cuộc chuyển biến này về tư duy kinh tế như là câu trả lời cho những ai đang ngần ngại: mở cửa, bung ra, cởi trói là nguy hiểm, làm mất CNXH, mà ngược lại cứu nguy cho nền kinh tế đất nước và cho đời sống nhân dân. Hầu hết những người tổ chức xé rào, đi ngược lại chủ trương đều từng là những người xông pha nơi chiến trường. Trên mặt trận kinh tế, họ tiếp tục chiến đấu vì sự nghiệp chung. Cuộc đấu tranh trong hàng ngũ đồng chí phải chấp nhận những hi sinh không mộ chí. Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc bị phê phán dám áp dụng khoán trong nông nghiệp. Anh đội trưởng đội sản xuất Đoàn Xá (Đồ Sơn, Hải Phòng) bị gọi lên huyện rồi được “mời” thẳng vào nhà giam vì tội “phá” HTX. “Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn (Hà Nội) bị bắt và tịch thu tài sản, công xưởng vì tội “bóc lột”. Số phận những nhân vật đó rất chênh vênh bởi không ít người có thế lực đã công khai tuyên bố “tội trạng” phá nguyên tắc, chống chủ trương của những công dân, đảng viên, cán bộ hay giám đốc doanh nghiệp “xé rào”. Ông Long “calo” (nguyên tổng giám đốc Liên hiệp Dệt VN), ông Thụy “thuốc lá” (giám đốc công ty thuốc lá), ông Lộc “viso” (giám đốc công ty bột giặt)… luôn phập phồng bởi liên tục có tin đồn người này bị bắt, người kia bị kỷ luật. Không phải không có những người bỏ cuộc. Nhiều người phải đấu tranh tư tưởng không phải trước khó khăn, nguy hiểm mà trước sự khóc lóc, can ngăn của... vợ con, thậm chí ngay cả những người cương quyết nhất cũng có những giây phút nao núng... Nhưng rồi lửa cách mạng và tinh thần đấu tranh trong sáng của họ chính là thông điệp mạnh mẽ gửi đến Ba Đình. XUÂN TRUNG - QUANG THIỆN Việt Báo (Theo_Tuổi Trẻ )
------------
Xem thêm: “Đêm trước”đổi mới: Những thông điệp gửi đến Ba Đình - Bai bao hay, http://vietbao.vn/Phong-su/Dem-truoc-doi-moi-Nhung-thong-diep-gui-den-Ba-Dinh/40112739/263/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn

0 nhận xét

“Đêm trước”đổi mới: Bù giá vào lương

Ông Chín Cần (Nguyễn Văn Chính), nguyên bí thư Tỉnh ủy Long An - tổng chỉ huy công trình bù giá vào lương ở Long An - Ảnh: Q.Thiện TT - Trong cảnh khốn khó của “đêm trước” đổi mới, có những đột phá táo bạo mà những người mở đường chấp nhận đầy rẫy rủi ro, thậm chí bằng cả sinh mệnh và sự nghiệp của họ. Kỳ 1: "Đêm trước" đổi mới: Ký ức thời “sổ gạo” Kỳ 2: “Vòng kim cô” Kỳ 3: Khi chợ trời bị đánh sập Kỳ 4: Công phá “lũy tre” kỲ 5: Chiếc áo cơ chế mới Kỳ 6: Tưởng như xa xôi lắm Kỳ 7: Từ chạy gạo đến phá cơ chế giá Nhưng may mắn thay, thực tế đã cho câu trả lời đầy thuyết phục. Câu “bù giá vào lương” như lời thần chú của cán bộ công nhân viên thời đó. Khắc khoải đồng lương Mẹ con bà Đường (Hà Đông, Hà Tây) hôm ấy dậy rất sớm. Người đi chợ mua thức ăn. Người đánh rửa ấm chén, quét nhà. Người thắp hương, cắm hoa lên bàn thờ... Chiều ấy, sau năm năm đi công nhân cầu đường, ông Bùi Văn Can, chồng bà, về thật. Đặt balô xuống, ông chia kẹo cho đàn con, đưa vợ nửa cân đường, một lọ mỡ là những thứ ông nhịn ăn trước khi về quê. Cuối cùng là tem gạo (suất ăn) của ông trong mấy ngày nghỉ cùng tờ giấy chứng nhận chiến sĩ thi đua. Có ý chờ mãi nhưng không chịu được, bà Đường hỏi: “Bố mày còn gì đưa tôi cất cho?”. Ông Can nguýt bà một cái nói: “Quà của mẹ nó đây!”. Nói rồi ông móc ra hai cái mũ vải. Một cái nam và một cái nữ may bằng vải thô, đường chỉ công nghiệp đơn giản, trong lót vải kẻ, hai bên có khoét lỗ nhôm để xỏ dây, trị giá khoảng một tô phở/chiếc. Bà Đường thất sắc ngồi phịch xuống đất thốt lên cay đắng: “Trời ơi ông đi làm năm năm đằng đẵng mà mang về được hai cái mũ à?”... Ông Can tâm sự: “70% thu nhập của một cán bộ hay công nhân là tem phiếu. 30% còn lại là lương. Thử hỏi, mỗi tháng tem gạo: 17 kg, thịt: 1,2 kg, đường: 0,75 kg thì tôi có thể để dành được gì? Đấy là chưa kể nó bị hao hụt, mốc, rách, thối, hỏng… khi đến tay tôi cũng như với những công nhân khác. Cay đắng hơn là người ta không cần biết tháng này tôi thiếu gạo hay dầu, cần xà phòng hay kem đánh răng, áo may ô hay mũ cát két… mà họ cứ có gì thì phát nấy. Nên cái thiếu cứ thiếu, cái thừa cũng chẳng dám bán (vì sợ lúc khác lại thiếu). Còn lương, chao ôi nó ít ỏi kinh khủng! Mỗi tháng tôi được 50 đồng, nếu quá chân ra chợ với mấy ông bạn chỉ một hai bữa nhậu là hết”. Ông Can còn chưa dứt cơn bùi ngùi xót xa của hơn 20 năm trước. Thời đó những người ăn lương nhà nước đều sống trong cảnh như nhà ông Can, bà Đường dù ngoài Bắc hay trong Nam bởi mô hình miền Bắc được áp vào miền Nam sau giải phóng. Thay vì trả hoàn toàn bằng tiền thì Nhà nước trả bằng hiện vật (những thứ mà người lao động nếu có tiền cũng sẽ phải mua). Tuy nhiên khi mậu dịch quốc doanh không đủ hàng hóa, bắt buộc phải dựa vào thị trường tự do thì toàn bộ những tính toán và hệ thống giá cả của Nhà nước cũng bị chi phối của qui luật cung cầu. Lúc này những yếu tố tích cực của chính sách tiền lương đã biến dạng thành những yếu tố tiêu cực. Sự tiêu cực, méo mó ấy khiến ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống, ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống... Khơi lại để tiếp tục chuyển mình “Đêm trước” đổi mới lại hiện về trong mỗi chúng ta, trong đó có tôi - thế hệ “ thừa hưởng” 10 năm bao cấp như những cuốn phim quay chậm... với ký ức buồn vui lẫn lộn. Đó là cảm giác của những ai đã từng vật lộn với một thời bao cấp... Năm 1981, sau khi tốt nghiệp Trường cao đẳng Ngân hàng, chị gái tôi được Ngân hàng Hưng Nguyên (Nghệ An) nhận vào làm. Tiêu chuẩn tết của chị tôi được 1,5 kg thịt heo. Còn nhớ ngày 27 tết năm đó, chị tôi nhắn tôi từ quê xuống thị trấn Thái Lão, huyện Hưng Nguyên (khoảng 30km) để lấy thịt heo về cúng ông bà. Đi xe đạp mất một buổi và chờ nguyên một ngày tôi mới lấy được 1,5kg thịt, 0,5kg lòng heo và được thêm hai tô nước lèo từ cơ quan chị về nhà. Năm đó cả nhà tôi sum họp và ăn một bữa tất niên ngập tràn niềm vui vì có thịt heo, tiêu chuẩn tết của chị. Bố tôi nói với cả nhà: các con gắng ăn học nên người, mai này được như chị đã có Đảng và Nhà nước quan tâm. Năm 1986-1987, ngành lương thực Hải Phòng thông báo hết gạo, hơn 1.000 sinh viên của Trường đại học Hàng hải - Hải Phòng có nguy cơ tạm ngưng một năm vì không có gạo. Để giải quyết khó khăn, trường đã làm công văn và phát cho mỗi sinh viên một tờ để trình các trạm kiểm soát khi mang gạo từ quê ra trường. Lợi dụng tình hình này, thỉnh thoảng chúng tôi cúp học và trốn về nhà buôn gạo tuyến Vinh - Hà Nội - Hải Phòng. Số lượng gạo buôn được không nhiều vì bị giới hạn 18kg/công văn song một phần nhờ nó mà chúng tôi qua được cơn bĩ cực. NGỌC LUẬN (Vũng Tàu) Một đề án không thể bỏ dở Mũi đột phá chế độ tiền lương gây ấn tượng nhất bắt đầu từ Long An. Ông Chín Cần (Nguyễn Văn Chính), bí thư Tỉnh ủy Long An - một nhà lãnh đạo đậm đặc tính khảng khái Nam bộ, quyết định phải làm gì đó thay đổi cơ chế giá cả, tiền lương. Lựa chọn trong giới trí thức địa phương, ông gọi phó giám đốc Sở Thương nghiệp lúc bấy giờ là ông Hồ Đắc Hi lên trao đổi. Những cái đầu và con tim đang trăn trở gặp nhau. Ông Hi dốc hết tâm trí soạn thảo đề án cải cách phân phối lưu thông ở Long An. Đề án này xác định lại giá cả, tiền lương phải dựa trên qui luật giá trị và cung cầu cũng như những nguyên tắc kinh tế hàng hóa khác chứ không thể duy ý chí. Ông Hi lấy trường hợp thu nhập của ông Chín Cần để tính toán: tổng tiền lương và 16 mặt hàng phân phối theo định lượng, tất cả qui ra giá thị trường thì lương bí thư tỉnh ủy xấp xỉ 600 đồng. Tuy nhiên vì những lý do như chất lượng hàng hóa thấp, tiêu chuẩn bị cắt xén, hàng được cấp không phù hợp nhu cầu... thì hiệu quả sử dụng của mức lương này chỉ đạt 50-70%. Tốt nhất là đem hết số hàng phân phối của bí thư ra chợ bán theo giá chợ rồi về trả cho ông 600 đồng/tháng. Bí thư cần gì ra đó mà mua. Như vậy tỉnh nắm được hàng hóa, giá cả. Vợ bí thư thoải mái lựa chọn hàng mua. Nhân viên thương nghiệp, dân buôn, đầu cơ... không còn cơ hội tiêu cực mà Nhà nước chẳng mất đồng nào, lại tiết kiệm được khoản bù lỗ cho thương nghiệp, tem phiếu, thời gian... Tiếc là đề án này đang làm dở thì ông Hồ Đắc Hi được chuyển về trung ương. Nhưng Long An quyết không dừng lại. Thử nghiệm thực tiễn lại phải đi trước một bước. Tháng 8-1979, sau khi lĩnh toàn bộ định mức hiện vật (tháng chín) của cán bộ công nhân viên trong tỉnh, thay vì phân phối hết cho cơ sở, Long An quyết định chọn một mặt hàng bán ra thị trường. Những đột biến được đề phòng. Thông thường khi Nhà nước bán hàng ra ngoài thì phần lớn lượng hàng đó bị “tay ngoài” móc ngoặc với “tay trong” để mua. Đợi Nhà nước hết hàng, họ bán ra thị trường với giá cao hơn nữa. Hoặc nếu người tiêu dùng sợ sau này không có hàng mà cố gắng mua nhiều để dự trữ thì sẽ gây khan hiếm ảo. Giải pháp ở đây là chia hàng để bán làm ba lần. Làm như vậy, người mua sẽ hiểu không phải Nhà nước chỉ bán một lần duy nhất. Điều đó đồng nghĩa: đầu cơ sẽ thất bại. Khi không còn đầu cơ thì các tệ nạn móc ngoặc, tham ô sẽ triệt tiêu dần. Làm từng đợt cũng là để giữ khoảng cách xử lý các tình huống xấu... Về mặt pháp lý, tỉnh ủy xác định: ghi chép thật minh bạch. Thử nghiệm xong tỉnh sẽ chủ động báo cáo toàn bộ kết quả với trung ương. Không tư lợi, không mờ ám mà có ích cho dân, cho tỉnh dẫu bị kỷ luật cũng không sợ. Xà bông đi trước… Mặt hàng đầu tiên được chọn là xà bông. Đây là thứ hàng không quá quan trọng như lương thực, thực phẩm nhưng cũng là thứ không thể thiếu đối với đa số người dân. Tháng 9-1979, 4 tấn xà bông được bày bán tại hầu hết các cửa hàng, hợp tác xã mua bán với giá cao gấp 10 lần giá phân phối (chỉ bán có hạn cho từng đối tượng) và tương đương giá chợ. Như dự tính, trong ba ngày bán không sót một cân và tất nhiên, khách hàng chủ yếu là “con buôn”. Thị trường xà bông từ xôn xao, ngơ ngác chuyển sang ngập ngừng nên hàng khan hiếm và hơi nhích giá. Đúng mười ngày sau, 5 tấn xà bông tiếp theo được tung bán với giá y như lần trước (đã thấp hơn giá chợ lúc đó chút xíu). Hàng cũng hết rất nhanh nhưng tư thương đã dè dặt. Giá xà bông giảm xuống mức ban đầu. Mười ngày sau, lượng xà bông cuối cùng được tung bán. Đồng thời, tiền lương tháng chín được cấp cho tất cả cán bộ công nhân viên chức của tỉnh. Lương không được tính theo mức cũ mà được cộng thêm định mức của mặt hàng xà bông (đã bị cắt) áp theo đúng giá chợ hiện thời. Ai muốn mua xà bông thì ra chợ. Lúc này tất cả số xà bông những người đầu cơ ở những lần mua trước được tung ra chợ. Giá giảm rất nhiều, người mua thoải mái lựa chọn và không còn phải lo mua dự trữ. Thông tin loan báo rộng rãi: xà bông không phân phối nữa nhưng cũng không thiếu ngoài chợ hay cửa hàng quốc doanh. Câu chuyện xà bông đi trước xem như thành công. Ba tháng cuối năm 1979, tất cả các mặt hàng phân phối khác đều được Long An tung bán ra thị trường (trừ gạo). 1kg thịt được Nhà nước qui định bán cho công nhân viên 3 đồng thì Long An bán thẳng ra chợ 30 đồng... 100% lương cán bộ công nhân viên trong tỉnh được lĩnh bằng tiền mặt. Toàn bộ số hiện vật đều được qui ra tiền theo mức giá thị trường. Người nhà nước hết sức phấn khởi, thị trường sôi động, chỉ số giá cả hàng tiêu dùng giảm xuống rõ rệt. Nhưng có lẽ sung sướng nhất là các bà nội trợ không phải thấp thỏm muốn cái gì cũng mua dự trữ (vì sợ lúc khác không được phân phối); không phải nịnh mấy cô thương nghiệp. Lần đầu tiên người Long An (công nhân viên chức) được ăn gạo ngon của chính quê mình làm ra (trước đây gạo phải bán cho Nhà nước, còn công nhân lại nhận gạo mậu dịch chất lượng thấp qua tem phiếu). Lần đầu tiên được ăn thịt cá tươi sống... Riêng quĩ lương của tỉnh tăng lên gấp bảy lần. Số tiền này Long An thừa sức giải quyết các nghĩa vụ với Nhà nước (mua lúa, thịt và các hàng hóa khác) cũng như trả lương cho công nhân viên chức và còn đủ lập quĩ lương riêng của tỉnh. Thực tế đã cho câu trả lời quá hùng hồn. Bí thư tỉnh ủy giao cho giám đốc Sở Thương nghiệp Long An là ông Tư Giao tiếp tục hoàn thiện đề án cải cách phân phối của ông Hồ Đắc Hi. Năm 1982, cơ chế bù giá vào lương của Long An chính thức được áp dụng trên toàn tỉnh và sau này mở một hướng đi mới cho cả nước. XUÂN TRUNG - QUANG THIỆN Việt Báo (Theo_Tuổi Trẻ )
------------
Xem thêm: “Đêm trước”đổi mới: Bù giá vào lương - Bai bao hay, http://vietbao.vn/Phong-su/Dem-truoc-doi-moi-Bu-gia-vao-luong/40112471/263/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn

0 nhận xét

“Đêm trước”đổi mới: Từ chạy gạo đến phá cơ chế giá

Khắp các chợ lúa gạo ở miền Nam sau cú "xé rào" bán theo giá thị trường lập tức đông đúc, nhộn nhịp - Ảnh tư liệu TTXVN Từ năm 1978, sau chiến dịch cải tạo,lập tức TP.HCM thiếu gạo - điều chưa từng có trong lịch sử miền Nam. “Hòn ngọc Viễn Đông” phải ăn độn bo bo là điều không thể tưởng tượng nổi. Kỳ 1: "Đêm trước" đổi mới: Ký ức thời “sổ gạo” Kỳ 2: “Vòng kim cô” Kỳ 3: Khi chợ trời bị đánh sập Kỳ 4: Công phá “lũy tre” kỲ 5: Chiếc áo cơ chế mới Kỳ 6: Tưởng như xa xôi lắm Ý tưởng “xé rào” Những người chịu trách nhiệm ở TP.HCM lúc đó đứng trước một bài toán nan giải: phải chấp hành chủ trương của Trung ương là tiến hành cải tạo, xóa bỏ thị trường tự do, nắm trọn khâu bán buôn. Nhưng lương thực không có vì không huy động được. Chuyện thu mua lương thực của các tỉnh đồng bằng là chuyện của trung ương, không phải việc của TP. Thành phố không được phép trực tiếp mua gạo ở các tỉnh. Mà nếu có được mua thì với giá “mua như giựt” cũng không thể nào mua được. Chưa bao giờ người dân thành phố không có gạo để ăn. Bây giờ sau giải phóng lại không đủ gạo ăn, thay vào đó là khoai mì, khoai lang thậm chí hạt bo bo. Từng đổ xương máu cho cuộc kháng chiến và sau đó lãnh đạo TP, Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Kiệt có lẽ là người nhức nhối nhất, vì cũng là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Đảng, trước dân TP. Ông đã tuyên bố trước lãnh đạo các ban ngành TP: “Không thể để một người dân nào của TP chết đói”. Nhưng làm thế nào để dân không đói? Gạo không được cung cấp. Tiền thì không có. Nếu có cũng không được phép đi mua. Mua được thì phải bán theo giá cung cấp do Nhà nước qui định. Thế thì càng chết. Nếu dân không chết thì ngân sách chết vì thiếu hụt. Người đi thu mua cũng chết vì vi phạm qui chế. Biết làm sao đây? Cả tập thể thành ủy và những bộ phận có liên quan, trước hết là cơ quan lương thực, cùng trăn trở. Bà Ba Thi, giám đốc Công ty Lương thực TP, vốn là người năng nổ, xông xáo và có gan tìm ra những giải pháp đột phá, như một bản năng của bà từ thời hoạt động chống Mỹ. Từng lăn lộn khắp đồng bằng sông Cửu Long, bà biết rất rõ thị trường gạo ở đây. Vấn đề không phải là thiếu, mà là không mua được. Vậy phải tìm cách nào để mua? Bà đề xuất với Bí thư Thành ủy: “Đi về đồng bằng sông Cửu Long tổ chức thu mua gạo trên thị trường, đem về phục vụ đồng bào TP”. Ý kiến này cũng đã xuất hiện trong đầu của nhiều cán bộ có trách nhiệm lúc đó. Ý hợp tâm đầu, từ những ý tưởng đột phá cá nhân đã hình thành ý kiến của tập thể. Vào những năm cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980, khi “thị trường” còn là điều cấm kỵ, nền kinh tế bị trói chết trong cơ chế “tập trung” và chế độ bao cấp hoang phí, là ủy viên dự khuyết của Bộ Chính trị, đứng đầu cơ quan lãnh đạo của Đảng ở TP.HCM, ông Võ Văn Kiệt đã đến từng nhà máy loay hoay tiến hành những cuộc thể nghiệm cục bộ không có tiền lệ và ngoài vòng luật pháp hiện hành. Ông trò chuyện với công nhân và đứng sau lưng các giám đốc dám đánh đổi tất cả để sản xuất bung ra. Lúc đó, người ta nói rằng: nhân dân Sài Gòn vốn có nhiều kinh nghiệm trong kinh tế thị trường đã cứu lấy đảng bộ của mình. Nhưng không thể không thừa nhận sự bứt phá của cá nhân ông Kiệt trong suy nghĩ và hành động nhằm vượt qua thực trạng kinh tế tiêu điều lúc ấy. HUỲNH SƠN PHƯỚC (Trích từ sách Ấn tượng Võ Văn Kiệt do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long và NXB Trẻ xuất bản năm 2002) Anh chị đi tù, tôi sẽ mang cơm nuôi Ông Lữ Minh Châu, lúc đó là giám đốc Ngân hàng Nhà nước ở TP.HCM, còn nhớ một bữa ăn sáng được mời rất bất ngờ. Ông Châu kể: anh Sáu Dân (tức Võ Văn Kiệt, bí thư thành ủy) gọi điện rủ tới nhà ăn sáng. Tôi hỏi có chuyện chi để tôi chuẩn bị. Anh nói “lên đây sẽ biết”. Tới nơi tôi mới biết anh cũng đã gọi một số người khác. Trong đó có anh Năm Ẩn - giám đốc Sở Tài chính, anh Năm Nam - chánh văn phòng Thành ủy và chị Ba Thi. Ăn sáng xong, anh Sáu Dân nói: “Hiện nay, dự trữ gạo của TP chỉ còn có vài ngày. Mình không thể để cho dân thiếu gạo được. Nhưng việc này với cơ chế hiện nay, không phải dễ giải quyết. Bộ Lương thực có trách nhiệm cung cấp gạo cho TP nhưng chưa bao giờ cung cấp đủ và kịp thời. Sở Lương thực thì không được phép mua với giá thỏa thuận. Dân đồng bằng sông Cửu Long có gạo nhưng không chịu bán nghĩa vụ cho Nhà nước vì họ bị thiệt. Trong khi đó dân TP có tiền và sẵn sàng mua với giá thỏa thuận thì lại không được xuống mua và đưa ra khỏi tỉnh. Tại sao chúng ta không ráp hai mối này lại? Đó là vấn đề mà tôi mời các anh chị đến để hiến kế giải quyết”. Ông Châu trầm ngâm nhớ lại: “Đúng là rất khó khăn. Ngoài các vướng mắc mà anh Sáu Dân nêu ra, cơ chế của từng ngành cũng có đủ thứ bó buộc. Chị Ba Thi phải lấy danh nghĩa “cá nhân” chứ không thể lấy danh nghĩa Sở Lương thực để mua gạo theo giá thỏa thuận. Nhưng cá nhân thì tài chính không thể ứng vốn, ngân hàng cũng không thể cho vay hoặc chi tiền mặt. Việc xin mua ở tỉnh và việc vận chuyển về TP cũng không phải dễ dàng. Bàn tới bàn lui rồi cũng có lối ra, chúng tôi nghĩ: vướng do cơ chế thì chỉ còn cách “xé rào”. “Xé rào” không phải khó. Nếu anh Sáu đồng tình với việc làm tuy gọi là “xé rào” nhưng có lợi và hợp tình, hợp lý thì chúng tôi làm được ngay: tài chính xuất tiền vốn chi cho chị Ba Thi mua gạo, ngân hàng xuất tiền mặt theo lệnh chi của tài chính và cho giấy đi tỉnh. Chị Ba Thi liên hệ với địa phương để mua gạo và xin phép chở về TP tổ chức bán thu tiền về và quay vòng tiếp theo. Để đảm bảo an toàn cho việc “xé rào” thì tài chính phải cử cán bộ đi cùng làm kế toán, ngân hàng cử cán bộ giữ và chi tiền mặt, còn chị Ba Thi phụ trách chung, gọi là tổ trưởng “Tổ thu mua lúa gạo” (có người gọi đùa là tổ buôn lậu gạo). Ông Sáu Dân đồng tình với phương án này và chịu trách nhiệm về chủ trương để các ngành làm. Bà Ba Thi nói “Làm cách này thì chúng tôi làm được, nhưng nếu Trung ương biết là đi tù đó”. Ông Sáu Dân vừa nói vừa cười: “Nếu do việc này mà anh chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi”. Một câu tuyên bố như một lời thề mà nhiều người đến nay vẫn thường hay nhắc lại. Ông Võ Văn Kiệt, bí thư Thành ủy TP.HCM, trên Nông trường Phạm Văn Hai - Ảnh trích từ sách Ấn tượng Võ Văn Kiệt, do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long & NXB Trẻ phát hành năm 2002 Phá cơ chế giá lỗi thời Chuyện mua lúa giá thị trường tưởng đơn giản nhưng là việc tày đình. Giám đốc Công ty Lương thực TP dám đánh cả đoàn xe xuống ĐBSCL mua lúa giá 2,5 đồng/kg (tương đương 5 đồng/kg gạo). Gạo chở về Sài Gòn bán theo giá kinh doanh (giá mua thực tế + chi phí xay xát + chi phí vận tải + thặng số thương nghiệp). Trong khi giá lúa do Ủy ban Vật giá qui định, Bộ Chính trị duyệt và Thủ tướng ký là 0,52 đồng/kg. Bà Ba Thi mua cao hơn năm lần quả là chuyện động trời. Nhưng lý do của bà khó ai có thể kết tội: phải lo cho cái bao tử của 3 triệu người dân TP. Đúng là bà dám vượt đèn đỏ, nhưng là ngồi trên xe cứu thương và cứu hỏa vượt công khai, chính đáng. Cái mốc “phá giá” này đã đẩy giá lúa khắp đồng bằng Nam bộ lên 2,5 đồng/kg. Giá chỉ đạo 0,52 đồng/kg bị vô hiệu hóa. Không bao lâu sau, mức phá giá đó lan ra cả nước. Không lùi được nữa. Sự đột phá của Công ty Lương thực TP không chỉ cứu cái bao tử người dân TP mà còn cứu nông dân cả nước khỏi cơ chế giá nghĩa vụ quá ư lỗi thời. ĐẶNG PHONG (chuyên gia sử kinh tế VN) 
------------
Xem thêm: “Đêm trước”đổi mới: Từ chạy gạo đến phá cơ chế giá - Bai bao hay, http://vietbao.vn/Phong-su/Dem-truoc-doi-moi-Tu-chay-gao-den-pha-co-che-gia/40112315/263/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn

0 nhận xét

“Đêm trước”đổi mới: Tưởng như xa xôi lắm

Ông Nguyễn Minh Nhị (thứ hai từ trái sang) trên thửa ruộng khuyến nông của người nông dân những năm đầu đổi mới - Ảnh tư liệu của ông Nguyễn Minh Nhị LTS: Những ngày qua, tòa soạn TS đã nhận được rất nhiều thư từ, bài viết, tư liệu, hình ảnh... “đêm trước” đổi mới. Chúng tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự cộng tác, góp ý và phản hồi từ bạn đọc. Kỳ 1: "Đêm trước" đổi mới: Ký ức thời “sổ gạo” Kỳ 2: “Vòng kim cô” Kỳ 3: Khi chợ trời bị đánh sập Kỳ 4: Công phá “lũy tre” kỲ 5: Chiếc áo cơ chế mới Nối tiếp mạch chuyện đột phá từ An Giang, chúng tôi xin phép tạm để lại bài “Bù giá vào lương” như đã giới thiệu số trước để đăng ngay bài viết của tác giả Nguyễn Minh Nhị - người từng có vai vế và hiểu rõ nội tình “đêm trước” đổi mới ở An Giang. Mười năm miền Nam trong cơ chế tập trung bao cấp sao mà dài quá và chuyện từ giã cơ chế ấy cũng chỉ mới đây thôi mà tưởng như xa xôi lắm. Tôi gần như quên rồi. Đó là thời kỳ mà thành quả kinh tế tưởng tượng rất lớn, nhưng thành tích cụ thể rất nghèo nàn. Bệnh nói dối bắt đầu Sau giải phóng, có những thời điểm quan trọng của đất nước tôi không có mặt tại vị trí công tác. Năm 1975 tôi đang dự lớp học ngắn ngày ở Hà Nội sau khi dự lễ Quốc khánh lần thứ 30 tại Ba Đình lịch sử. Cải tạo công thương nghiệp với các chiến dịch kê biên, quản lý rầm rộ thì tôi đang học hai năm cũng ở Hà Nội. Tôi hơi buồn vì không có dịp lập công, nhưng sau đổi mới tôi mừng hú vía. Chỉ có cái chuyện cải tạo nông nghiệp mà tôi rất hăng hái - sau khi học xong chương trình lý luận cao cấp T.Ư, làm phó bí thư huyện ủy, trưởng ban cải tạo huyện Phú Tân - dù hăng hái nhưng vẫn không được mảnh giấy khen nào, kể cả suốt quá trình hơn 10 năm sau giải phóng. Trong thâm tâm tôi, cho đến tận bây giờ, đôi khi cảm thấy điều đó là hạnh phúc! Ở huyện năm năm, kể cả hai năm đi học, tôi làm việc quên mình - trẻ tuổi mà. Những chuyện cười ra nước mắt như mọi người nhắc lại, tôi đều có biết hoặc có làm, kể hoài sao hết, nghe và đọc nhiều cũng nhàm, vì nó lặp đi lặp lại một cách đơn điệu và máy móc như được lập trình. Nhưng có những cái thì không thể nào quên. Đó là điều tôi nhận thức và giác ngộ rằng làm những chuyện như vậy là lo cho dân, lo cho Tổ quốc VN XHCN hùng mạnh, cho không còn người bóc lột người. Nhưng khi hướng dẫn đoàn thể và dân nghèo không đất (kể cả dân chạy xe lôi) để cấp đất thì người chủ đất (trung nông) mặt ủ mày chau chứ không phải hung hăng “chống người thi hành công vụ” như một số trường hợp bây giờ, còn người được nhận đất, có số lắc đầu bỏ về. Chiều, tôi đến hỏi tại sao, được trả lời: “Đất của người ta mà lấy gì kỳ vậy”. Tôi báo cáo việc này tại cuộc họp ở tỉnh, một đồng chí lãnh đạo tỉnh phán một câu “không ham đất, không nhận đất là không phải nông dân” (!). Một buổi sáng năm 1979 tôi đến dự đại hội thành lập tập đoàn sản xuất số 1 ấp Thượng 1, xã Phú Mỹ. Khi đi ngang qua nhà các tập đoàn viên, tôi nghe một phụ nữ khoảng trên 40 tuổi nói to với con: “Ăn cơm lẹ đi để mà dự đại hội”. Lời thì thật mà giọng thì mỉa mai. Đến 9g mà chỉ có toàn con nít và đại diện các đoàn thể xã, ấp và mươi người dân không đất. Rồi đại hội cũng thành công. Đêm tôi không ngủ được với những câu hỏi cứ cật vấn: “CNXH là ưu việt, Đảng ta không có quyền lợi nào khác ngoài quyền lợi của dân, việc đưa nông dân vào HTX, tập đoàn sản xuất là vì họ chứ đâu phải vì ta. Vậy tại sao dân chống? Cho đất để có ruộng cày mà sao có người lại không chịu...?”. Trong bài thơ tặng Đại hội VI của Đảng, tôi tâm sự: Nhưng đã mười một năm ai cũng nhận ra rằng Đường hạnh phúc không phải trong gang tấc Đã làm bạc những mái đầu ái quốc Những suy tư khi nhắm mắt vẫn chưa rồi Cảnh đói nghèo chạy gạo ngược xuôi. Bởi vì: Đơn độc, xa dân dù ta có triệu con người Cũng là chỉ bóng mờ trên đường thẳm. Và: Đừng ban lệnh từ trên và cũng không dọa dẫm Lệnh từ cõi chín tầng dĩ vãng đã lùi xa Lòng từ bi từ cửa Phật ban ra Đó cũng chỉ mới là lời cầu nguyện Mọi ý cao siêu mọi điều phúc hạnh Không phải từ tấm lòng mà phải từ cuộc sống đặt ra. (Thơ Mở Đường - 1986) Đầu tháng 9-1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trước đoàn đại biểu miền Nam ra Hà Nội, đại ý: “Các đồng chí ra đây là đi thăm chơi, nghe và thấy về làm có chọn lọc, đừng bắt chước miền Bắc, làm rập khuôn HTX dân kêu lắm”. Hôm sau lên Tam Đảo, đến trước nhà nghỉ của cụ, cụ ra tiếp nói chuyện vui vẻ và nhắc lại lời nói trên một lần nữa. Nghị quyết của Ban Bí thư về tình hình miền Nam sau giải phóng tôi mới học cũng còn nói duy trì các thành phần kinh tế... Vậy mà khi về, dự các hội nghị thì nghe “quyết liệt” quá, như chủ nghĩa tư bản chực nuốt ta và nếu cải tạo nền kinh tế tư bản ít năm sau là sẽ có CNXH ngay. Một không khí hừng hực cách mạng, căng thẳng không kém chuẩn bị đồng khởi. Trong nội bộ bắt đầu có chuyện nhận xét về nhau và bệnh nói dối bắt đầu. Hôm du kích, công an xã Phú An rượt tịch thu bắt đàn vịt mấy trăm con của vợ đồng chí Bảy Hồ, phó bí thư huyện ủy. Vợ đồng chí ngăn cản, tẩu tán... Báo cáo được gửi về huyện. Ông Nguyễn Minh Nhị Có người nói ở thời đó không có tham nhũng (trừ đặc quyền đặc lợi). Đúng là nghèo quá đến mức không có gì để tham nhũng. Hay nói đúng hơn là cái nghèo được đem chia đều cho mỗi người, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao. Năm sau nghèo nhiều hơn năm trước. Đến không còn gì để mà chia nữa. Ở Bảy Núi quê tôi thời đó có câu chuyện thật mà như tiếu lâm: tên trộm khoai mì để lại hiện trường hai câu thơ: Bần cùng sanh đạo tặc. Không ăn cắp khoai mì lấy... gì ăn! Cuộc sống dồn chúng ta đến chân tường của cơ chế lỗi thời mà nếu không phá nó đi thì không còn đường sống. Toàn Đảng đồng lòng phá nó, Đảng bộ An Giang đi đầu trong cuộc đột phá đó, cho dù không ít người “ba phải” chờ thời hoặc tỏ ra “kiên định cách mạng” nhưng không thể ngăn được dông bão cách mạng. Và năm 1986, cái gì đến phải đến. Đại hội VI của Đảng là mốc son và những người góp công đóng cái mốc son ấy trong lịch sử đất nước được người đời nhắc nhở như các cụ Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… là những “đại công thần” đổi mới! Lý lẽ vịt ăn lúa còn ghê gớm hơn chim sẻ ăn lương thực ở Trung Quốc nên ai mà không sợ (!). Đồng chí Bảy Hồ rất trầm tĩnh, lắng nghe, còn bên ngoài thì cán bộ xầm xì về việc lãnh đạo không gương mẫu. Tôi nghe sao ray rứt, bần thần cho chủ trương và thương cho đồng chí mình quá! Phía sau văn phòng huyện ủy có mảnh đất sản xuất lúa hai vụ rất tốt, đang sản xuất 6 tấn/ha, vậy mà khi thành lập HTX Phú Mỹ 1 năng suất chỉ còn trên dưới 3 tấn/ha. Đây là HTX điểm, đích thân một đồng chí ủy viên thường vụ tỉnh ủy phụ trách chỉ đạo. Vậy mà chỉ từ hội trường huyện ủy đến ngoài ruộng đã nghe nói khác nhau: ngoài ruộng thì nói vào HTX lúa tiêu điều, lên bục phát biểu thì HTX hơn cá thể, “là trục quay” của cách mạng lúc này, HTX Phú Mỹ 1 là thí dụ... Có người nói móc “cái bục này là chỗ để nói dối”! Được cái là tỉnh ủy và các ban đảng cũng biết nhiều huyện, xã báo cáo “cơ bản hoàn thành” cải tạo nông nghiệp là hình thức, nhưng không bắt tội ai mà còn tặng bằng khen là khác. Nhờ đó mà An Giang mới ít khổ một chút. Lúc ông Sáu Hơn (Nguyễn Văn Hơn) là thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, mỗi lần về tỉnh gặp anh em, ông hay nói: “Ở bộ tôi chỉ làm cái việc nghe nơi nào cơ bản hoàn thành cải tạo nông nghiệp là tôi đến cấp bằng công nhận. Vậy thôi!”. Không tiền mua được lúa mới hay Còn chuyện “thu mua” lương thực, mỗi lần vào vụ là “mở chiến dịch giao lương” liên tục ở ba cấp địa phương. Dù thu mua không đạt chỉ tiêu, nhưng với số lúa gom góp được thì không nơi chứa. Có lần tôi tình cờ đem một nắm lúa đã nảy mầm thành mạ từ trạm thu mua xã Tân Hòa về để báo cáo với huyện ủy. Lúc này đồng chí Nguyễn Văn Linh, trưởng Ban Dân vận T.Ư, đang có mặt tại văn phòng huyện ủy, ông nhận “nắm mạ” từ tay tôi, chau mày và quay sang nói với đồng chí Tư Việt Thắng, bí thư tỉnh ủy: “Anh gói lại gửi cho Ban Bí thư”. Tại các điểm thu mua lúa để tràn ra lộ, vậy mà cấp trên cứ “đốc chiến”. Có lần đồng chí bí thư huyện ủy triển khai: “Không có tiền mà mua được lúa mới hay”. Trời ơi, mua rẻ mà còn không có tiền, mua không kho chứa phải để lên mộng mà còn đốc chiến liên tục thì thật không giải thích nổi. Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần IV, ông Sáu Hơn về làm bí thư tỉnh ủy, tôi còn tiếp tục làm công tác tổ chức, đề xuất và giúp tỉnh ủy giải quyết chính sách cho hàng trăm cán bộ sơ, trung, cao cấp tỉnh đã đến hoặc quá tuổi để về hưu. Một đội ngũ cán bộ tương ứng với nhiệm vụ mới được bổ sung, cùng tỉnh ủy tăng tốc. Đó cũng là nhân tố quyết định đổi mới thành công ở An Giang. Và tôi có dịp khắc phục khuyết điểm năm xưa khi ở huyện vì đã “góp phần tích cực” làm cho sản xuất nông nghiệp trì trệ một thời gian dài; đó là đến năm 1988 được tỉnh ủy phân công làm giám đốc Sở Nông nghiệp. Tỉnh ủy An Giang từ khóa IV đến nay sắp bước vào Đại hội VIII, trải qua 20 năm, cùng với một đội ngũ cán bộ được đào tạo, rèn luyện trong đổi mới đã trưởng thành thật sự. Một đội ngũ có tâm vì dân là trên hết rồi sau đó mới vì cấp trên. Chấp nhận trả giá. Tôi nay đã 60 tuổi, sẽ từ diễn đàn đại hội tỉnh lần này về thẳng đời sống thường dân, nhưng nhìn đội ngũ anh em đang tiếp tục, tôi thấy vui vui vì sự hùng hậu, trí tuệ và từng trải trong sự nghiệp đổi mới của họ. Và tin họ cũng sẽ vượt qua những cạm bẫy, rào cản trên đường, trong ánh bình minh đổi mới! Long Xuyên, 4-12-2005 NGUYỄN MINH NHỊ (phó bí thư tỉnh ủy, nguyên chủ tịch UBND tỉnh An Giang) Việt Báo (Theo_Tuổi Trẻ )
------------
Xem thêm: “Đêm trước”đổi mới: Tưởng như xa xôi lắm - Bai bao hay, http://vietbao.vn/Phong-su/Dem-truoc-doi-moi-Tuong-nhu-xa-xoi-lam/40112094/263/
Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn

0 nhận xét